Cũ 31-12-2009, 09:00   #1 (permalink)
Danh nhân đất Cảng
potternguyen potternguyen đang offline 31-12-2009, 09:00

Cổ Am - mảnh đất giàu nguyên khí.

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số người thuộc dòng họ Nguyễn ở Cổ Am
Chẳng biết từ bao giờ, người dân khắp nơi trong vùng đã truyền miệng câu; "Đông Cổ Am, nam Hành Thiện" để chỉ về những vùng đất học nổi tiếng từ xa xưa. Tuy Cổ Am chưa có người xuất chúng đứng đầu nhà nước nhưng ở thời nào mảnh đất nơi đây cũng sản sinh ra nhiều hiền tài cống hiến nhiều công lao to lớn cho quốc gia dân tộc.

Nằm tận cùng phía đông nam huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng, nơi giáp ranh với huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, cái làng úm Mạt xưa (tên cũ của Cổ Am) lại được tạo lên bởi sự bồi đắp phù xa mầu mỡ từ hai con sông lớn là sông Thái Bình và sông Hoá. Phải chăng, chính tạo hoá đã ban cho mảnh đất nơi đây những tinh tuý của trời đất để rồi từ đó đã sản sinh ra bao thế hệ hiền tài như một tài nguyên vô giá của quốc gia. Trải qua bao thăng trầm của thời cuộc, Cổ Am vẫn bảo lưu trong mình một giá trị văn hóa sâu sắc, mang đậm truyền thống cần cù, hiếu học của người Việt Nam xưa và nay.

Xưa kia, dưới thời Bắc thuộc, Cổ Am thuộc Châu Hồng. Đến thời nhà Lý, nhà Trần (thế kỷ XI -XIV) Cổ Am thuộc huyện Tứ Kỳ và Đồng Lại. Đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Cổ Am thuộc huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Năm Minh Mạng thứ_XIX (1838), Cổ Am mới thuộc huyện Vĩnh Bảo tỉnh Kiến An.

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, mảnh đất Cổ Am có bề dày lịch sử từ rất lâu đời Ngay từ thời Hai Bà Trưng, khi nữ tướng Lê Chân kéo quân xuống Hải Phòng để tập hợp binh sĩ đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc, Cổ Am đã là một căn cứ để luyện tập nghĩa quân. Rồi như đất lành chim đậu, nhân dân khắp nơi cứ tụ hội về đây khai khẩn đất đai, tập lên làng mạc và làm ăn sinh sống.

Trong các thư tịch cổ, văn bia, tộc phả để lại thì ngay từ buổi sơ khai, những người về đây lập làng đã là ngươơơi có học thức sâu rộng. Họ tụ hội về đây với muôn vàn lý do: người cáo ban về ở ẩn, người lại từ bỏ chốn phồn hoa đô thị để về đây để sống một cuộc đời thanh bạch. Có kẻ lại muốn tìm cho mình một mảnh đất yên ả làm nơi tĩnh dưỡng tuổi già sau những tháng ngày bon chen nơi cung cấm...Cổ Am vô tình trở thành điểm dừng chân của các hiền nhân, kẻ sĩ. Cứ thế, đời này truyền cho đời kia, nền học vấn ở Cổ Am được bắt đầu từ đó và phát triển. Người ta dạy học theo kiểu cha truyền con nối mà không phải mất tiền của để thuê thầy, mướn thợ về nhà dạy học.

Hơn ai hết, người Cổ Am hiểu rằng, để có được sự thành đạt như vậy từ xa xưa, tổ tiên của họ đã phải sống cảnh 'nằm gai nếm mật ''để đùi mài kinh sử. Thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, họ cứ theo nhau mà học . Dường như người Cổ Am sinh ra là để học, họ học theo phong trào, học để rồi đỗ đạt. Người Cổ Am luôn coi học hành là việc quan trọng hàng đầu. Người ta cho học hành như một nhiệm vụ, một vinh dự cao cả, một tập quán thiêng liêng không thể thiếu trong đời sống của họ.

Theo thống kê của các nhà chép sử địa phương, Cổ Am có tới 28 dòng họ. Trong đó, họ Trần và họ Đào là 2 dòng họ lớn nhất đồng thời cũng là 2 dòng họ có nhiều người đỗ đạt nhất. Cụ tổ của họ Trần là tiến sĩ Trần Lương Bật, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Giáp Thân (1664). Ông làm quan tới chức hữu thị lang bộ binh. Rồi như Trần Công Hân, đỗ tiên sĩ năm Quý Sửu (1733) khi mới 32 tuổi .Ông là một trong 'tứ hổ Tràng An', là một trong những người có học vấn uyên thâm bậc nhất thời bấy giờ. Ông làm tới chức thị chế viện hàn lâm. Tiến sĩ Trần Mỹ, triều Thanh Thái thứ ba khoa Tân mão( 189l), ông làm tới chức quan Thượng thư. Đến những năm đầu thế kỷ XX, hai cây bút từng danh của đất Cổ Am là văn sĩ Trần Tiêu và nhà văn Khái Hưng (Trần Khánh Dư)- cây bút trụ cột của nhóm Tự lực văn đoàn. Giáo sư Trần Bảng - Vụ trưởng vụ nghệ thuật chèo, nghệ sĩ Trần Lực... và còn nhiều các giáo sư, tiến sĩ tiêu biểu khác cũng được sinh ra tại nơi đây .

Nhưng dòng họ có nhiều người đỗ đạt nhất Cổ Am, phải kể đến họ Đào. Chỉ tính riêng từ 1784 đến 1900 dưới triều Nguyễn, họ Đào có tới hơn 10 người đỗ tiến sĩ ở các cương vị khác nhau. Tiêu biểu như cụ Đào Trọng Thiều làm tới chức hàn lâm viện thị độc học sĩ. Đào Trọng Kinh giữ chức huấn đạo trung thuận đại phu. Đào Trọng Kỳ (cụ nội của đương kim chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo - Đào Trọng Giao) Thượng thư bộ lại, hiệp biên đại học sĩ. Và giờ đây có đương kim Bộ trưởng Bộ Bưu chính viễn thông, Đỗ Trung Tá, Giáo sư - tiến sĩ Đào Trọng Thi - Uỷ viên Trung ương Đảng, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, giáo sư Đào Nguyên Cát - Tổng biên tập Thời báo kinh tế Việt Nam, giáo sư Đào Mạnh Thuật , Vụ trưởng vụ đào tạo, Đào An nguyên chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng...và hơn 30 giáo sư, tiến sĩ nổi tiếng đang đảm nhiệm những trọng trách quan trọng khác.

Họ Nguyễn ở Cổ Am cũng là họ có khá nhiều người đỗ đạt. Theo truyền thuyết để lại thì trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm là một trong số người thuộc dòng họ Nguyễn ở đây.

Trong danh sách các vị đậu thi Hương triều Nguyễn tại làng Cổ Am (trích trong cuốn Quốc triều Hương khoa Lục tại viện Hán nôm do quan đại thần Cao Xuân Dục chủ biên ) có tới trên 20 người đỗ tiến sĩ. Một con sôôô không phải bất cứ vùng quê nào cũng có được.

Cổ Am không chỉ là đất học từ thời xa xưa mà cho đến bây giờ, thế hệ con cháu những người Cổ Am vẫn không, ngừng phát huy truyền thống hiếu học của ông cha mình. Với một xã chỉ rộng 337 ha và hơn nghìn hộ dân, nhưng nhân tài ở Cổ Am thì không hề khiêm tốn. Vài năm gần đây, số học sinh Phổ thông vào đại học ở Cổ Am trung bình khoảng trên 40 người, đó là chưa kể số vào các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Nếu ở đâu đó chuyện một gia đình có 3- 4 người học đại học là hiếm thì ở Cổ Am đó, là điều dường như rất đỗi bình thường. Cả xã Cổ Am hiện có hơn chục gia đình có từ 3- 4 con học đại học. Trong số đó có những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như gia đình ông Đào Hữu Đông ở xóm 1 . Ông Đông bị thương binh hạng 2/4, vợ chỉ làm ruộng nhưng cả hai ông bà đều nuôi cả 4 người con ăn học đại học. Rồi như gia đình ông Trần Trọng Lực, ông Trần Đức Mấm, ông Hoàng Đình Giới đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng họ vẫn nuôi được 3-4 người con đã và đang theo học đại học.

Để có được sự kế thừa cho đất học như Cổ Am hôm nay không phải là chuyện ngẫu nhiên. Có lẽ, ít có địa phương nào lại làm tốt công tác khuyến học sớm như Cổ Am. Năm 1993, quỹ khuyến học ở đây đã được hình thành do sự phát hiện tìn của giáo sư Đào Trọng Côn- nguyên Hiệu trường trường Đại học nông nghiệp Huế. Sau khi về hưu, năm 1992, ông được một người bạn từ Pháp gửi tặng cuốn sách Quid của tác giả Robert Laffont nói về giải thưởng Nobel, ông liền nảy sinh việc thành lập ra quỹ khuyến học ở Cổ Am. Và từ đó, mỗi năm quỹ khuyến học ở đấy đã đóng góp hàng chục triệu đồng cho việc trao thưởng và giúp đỡ những học sinh nghèo học giỏi.

Về Cổ Am, anh Đào Phú Thịnh - Chủ tịch xã tươi cười thấy tôi có vẻ ngạc nhiên khi nghe anh nói về thu nhập của người dân Cổ am: 'Có được bộ mặt của Cổ Am như hôm nay, phần lớn do con cháu của xã đi ra ngoài khi thành đạt quay về đầu tư xây dựng, chứ xã tôi nghèo lắm, bình quân thu nhập đầu người chưa đầy l.800.000đồng/năm.'

Vâng ! đó chỉ là một phần đóng góp của người dân Cổ Am cho địa phương mình. Cái đóng góp to lớn kia hẳn phải là sự đóng góp cho đất nước, cho dân tộc bởi hiền tài mãi mãi là nguyên khí của quốc gia.



Nữ tướng Lê Chân

Lê Chân là một tướng tài của Hai Bà Trưng, được tấn phong là Thánh Chân công chúa. Theo bản thần tích hiện còn lưu giữ ở Đền Nghè (thuộc quận Lê Chân), Lê Chân còn là con ông Lê Đạo và bà Trần Thị Châu, quê ở An Biên, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương (nay thuộc xã An Thuỷ, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Xuất thân trong một gia đình nề nếp, chuyên nghề dạy học và chữa bệnh, cô gái họ Lê vừa đẹp người đẹp nết. Thái thú Tô Định nghe danh, đòi lấy làm tỳ thiếp. Bị khước từ, Tô Định căm giận, bức hại gia đình bà. Thù nhà, nợ nước, Lê Chân ngầm đem một số người nhà, người làng đến vùng biển An Dương lập trại, lấy tên quê cũ đặt cho miền đất mới, chiêu mộ nhân tài các nơi cùng lo dấy binh chống bọn đô hộ.

Khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, Lê Chân cùng nghĩa quân ở căn cứ An Biên đã lập nên chiến công vang dội. Khởi nghĩa thành công, Lê Chân đã ra sức tổ chức, xây dựng lực lượng. Khi Mã Viện đem quân sang phục thù, do tình thế bất lợi, bà phải rút quân về bảo vệ căn cứ Mê Linh. Sau khi căn cứ này bị vỡ, Hai Bà Trưng tự tận, Lê Chân đem quân về lập căn cứ địa ở Lạt Sơn, thuộc Hà Nam ngày nay nhằm khôi phục cơ đồ. Một lần nữa, Mã Viện đem lực lượng lớn tới tấn công, nghĩa quân chống trả quyết liệt nhưng không bảo toàn được lực lượng. Cuối cùng Nữ tướng Lê Chân trầm mình xuống sông để bảo toàn danh tiết.

Sau khi bà tuẫn tiết, nhân dân An Biên (phường An Biên, quận Lê Chân ngày nay) dựng đền thờ ở xứ Đồng Mạ (khu vực đền Nghè bây giờ). Đến đời vua thời Trần Anh Tông, bà được phong là Thành hoàng xã An Biên huyện An Dương. Hàng năm, cứ đến ngày sinh mồng 8 tháng 2, ngày hoá 25 tháng chạp, ngày khánh hạ 15 tháng 8, nhân dân An Biên nô nức đến đền Nghè cùng dân lễ tưởng niệm vị nữ tướng.

Hải Phòng có một quận nội thành mang tên Bà: Quận Lê Chân. Tượng Nữ tướng Lê Chân là một biểu tượng của thành phố Hải Phòng.



Lê Ích Mộc (1409-?)

Lê Ích Mộc đỗ Đình Nguyên, Trạng nguyên tại khoa thi năm Nhâm Tuất (năm 1502), đời vua Lê Hiển Tông, sinh năm 1448, song năm mất thì đến nay vẫn chưa được xác định chính xác.

Ông là người làng Thanh Lãng (tên nôm là Ráng), huyện Thủy Đường nay là thôn Quảng Cư, xã Quảng Thanh, huyện Thuỷ Nguyên. Xuất thân trong một gia đình nghèo, thời hàn vi, Lê Ích Mộc ở nhờ chùa Diên Phúc. Vì thế ông thường được nhà chùa nhờ chép và dịch kinh Phật. Ông làm quan đến chức Tả Thị Lang. Sau khi về trí sĩ, ông về quê và mở trường dạy học, khai khẩn đất hoang (hiện còn dấu vết khu ấp ông khai khẩn và khu rừng lim). Sau khi ông mất, dân Thanh Lãng và Quảng Cư đều thờ làm phúc thần, thường gọi là đền quan Trạng Ráng.

Trong chiến tranh chống Pháp 1946-1954, đền chính bị phá và đến năm 1993 đã được trùng tu.


Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

Ông sinh ngày 6/4/1491 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Kiến An (nay là thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng), Nguyễn Bỉnh Khiêm là một danh nhân văn hoá kiệt xuất của Việt Nam và là một trong những người đặt nền móng cho sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Lúc sinh thời, ông có nhiều học trò giỏi như Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Quyên, Nguyễn Dữ... Năm Ất Mùi (1535) đời Mạc Thái Tông, ông đỗ Đình Nguyên, Trạng Nguyên. Làm quan từ chức Hiệu Thư Đông Các đến Thị lang Bộ Lại. Năm Nhâm Dần (1542), ông từ chức về quê, dựng quán Trung Tân, lập Am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân Am cư sĩ

Am Bạch Vân là một Trường đại tập nổi tiếng, sĩ tử khắp nơi đã đến đây theo học. Ông còn sáng tác nhiều thơ văn có giá trị, tuy vậy đến nay hầu như đã thất truyền nên chỉ còn lại tập thơ chữ Hán Bạch Vân Am thi tậpppp, tập thơ chữ nôm Bạch Vân quốc ngữ thi tậpppp và một số sấm vĩ tương truyền là lời tiên tri của ông. Do có nhiều công lớn, đầu đời Mạc Hậu Hợp, Nguyễn Bỉnh Khiêm được phong Thái phó, Thượng thư Bộ lại, Trình Quốc Công (bia chùa Cao Dương). Lúc ông mất, Mạc Đông Nhượng, phụ chính đại thần tự tay viết biển ngạch đặt ở đền dòng chữ Mạc triều trang nguyên tể tướng từừừừ.

Năm 1985, Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã phối hợp với Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày sinh của ông. Nhân dịp này, Hội nghị khoa học toàn quốc về Nguyễn Bỉnh Khiêm do Hội đồng Lịch sử thành phố Hải Phòng và Viện Văn học chủ trì cũng được tổ chức. Nhân 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm (1991), Chính phủ đã tổ chức lễ kỷ niệm với nghi thức Nhà nước tại Văn Miếu, Hà Nội. Hiện ông được xếp là một trong 13 danh nhân văn hoá lớn của dân tộc Việt Nam.

Đền thờ Trình Quốc Công tại Trung Am, xã Lý học, huyện Vĩnh Bảo đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia. Để ghi nhớ những đóng góp lớn lao của ông, Uỷ ban nhân dân thành phố đã lấy tên ông đặt tên cho con đường lớn thuộc quận Ngô Quyền. Đồng thời, giải thưởng khoa học và giải thưởng văn học - nghệ thuật (cao nhất của thành phố) cũng đã được vinh dự mang tên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tượng của danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm được dựng tại Khu di tích và Thư viện Khoa học tổng hợp với qui mô lớn.



Trần Tất Văn (?-?)

Là người làng Nguyệt Áng - huyện An Lão, nay là thôn Nguyệt Áng, xã Thái Sơn, huyện An Lão.
Ông đỗ Đình Nguyên, Trạng nguyên tại khoa thi năm Bính Tuất (năm 1526), lấy niên hiệu là Thống Nguyên thứ 5 đời Lê Cung Hoàng. Ông làm quan nhà Mạc tới chức thượng thư, tước Hàn Xuyên Bá dưới triều Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, trông coi việc từ hàn. Trong thời kỳ đương chức, những văn thư trao đổi giữa nhà Minh và nhà Mạc, ông đều tham gia.


Bùi Đình Dự (1726-?)

Bùi Đình Dự là người Nãi Sơn, huyện Nghi Dương, nay là thôn Nãi Sơn, xã Tú Sơn, huyện Kiến Thuỵ. Ông đỗ Đình Nguyên, Hoàng giáp tại khoa thi năm Đinh Sửu (1757), đời vua Lê Hiển Tông.

Ông nổi tiếng hay chữ, bia Văn Miếu Thăng Long ghi chú rằng ông vốn là sinh đồ văn chức. Bùi Đình Dự làm quan đến chức Hiệu thư Viện Hàn lâm, Thừa Chính sứ. Khi về trí sĩ, ông được tặng hữu Thị lang Bộ Hình, tước Dương Lĩnh hầu. Các trước tác của ông nay không còn, hiện chỉ có một số bài văn tế thành hoàng của xã Đoan Xá tương truyền do quan Hoàng Nại soạn (Nại là tên nôm của làng Nãi Sơn)


Lương Khánh Thiện (1903-1941)

Lương Khánh Thiện sinh năm 1903, quê ở xã Liêm Chính, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Năm 1925, ông cùng Hoàng Quốc Việt vận động đòi ân xá Phan Bội Châu sau đó về Nam Định tuyên truyền cách mạng.

Năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Ngày 1-5-1930, sau khi tham gia cuộc biểu tình, ông bị giặc bắt và bị kết án khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo. Năm 1936, được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động ở Hà Nội và được cử vào Xứ uỷ Bắc Kỳ, trực tiếp chỉ đạo các cuộc bãi công của Nhà máy xe lửa Gia Lâm. Đầu năm 1940, ông phụ trách các phong trào yêu nước ở Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên, Hòn Gai, Hải Dương, Hưng Yên và trực tiếp làm Bí thư Thành uỷ Hải Phòng. Tháng 11-1940, ông bị Thực dân Pháp bắt và kết án tử hình, bị hành quyết ngày 1-9-1941 tại thị xã Kiến An. Lúc đó ông mới 38 tuổi.
Hiện nay, Hải Phòng có một phường và một phố mang tên ông (thuộc quận Ngô Quyền).



Nguyên Hồng (1918-1982)

Nhà văn Nguyên Hồng sinh ngày 5-11-1918 tại Nam Định, qua đời ngày 2-5-1982 Nhã Nam , huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, quê hương ông. Nguyên Hồng vốn học vấn ít ỏi, trí tuệ và tài năng của ông chủ yếu họcccc từ cuộc sống.

Có thể nói, Nguyên Hồng là nhà văn của Hải Phòng. Ông là chủ tịch đầu tiên của Hội Văn học Hải Phòng. Các tác phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề xã hội và con người Hải Phòng. Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm có tiểu thuyết Bỉ Vỏ (năm 1937), Những ngày thơ ấu (năm 1938), Cửa Biển (1961-1976).

Hiện nay, tên ông được đặt cho một phố thuộc quận Hồng Bàng, Hải Phòng


Nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995)

Nhạc sỹ Văn Cao là một nghệ sỹ đa tài. Trong nhiều lĩnh vực từ nhạc, hoạ, thơ đều có dấu ấn của ông. Nhạc sỹ Văn Cao sinh trưởng, học tập và có nhiều năm hoạt động nghệ thuật tại Hải Phòng. Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị cho nền văn hoá - nghệ thuật Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực âm nhạc. Bên cạnh những ca khúc trữ tình lãng mạn thời kỳ tiền khởi nghĩa còn vang vọng tới ngày nay như Thiên Thai, Bến Xuân, Suối Mơ, Trương Chi... ông còn là tác giả của nhiều bài hát cách mạng nổi tiếng, trong đó tác phẩm để lại dấu ấn lớn nhất trong cuộc đời âm nhạc của ông là bài "Tiến quân ca" (sáng tác năm 1944). Bài hát này đã được chọn là Quốc ca của Việt Nam từ năm 1946 đến nay.

Với những đóng góp lớn lao cho nền văn hoá - nghệ thuật Việt Nam, tháng 9-1996, nhạc sỹ Văn Cao được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

Hiện tên ông được đặt cho một phố thuộc quận Ngô Quyền, Hải Phòng


Tô Hiệu (1912-1944)
Quê ở thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tô Hiệu tham gia các phong trào yêu nước từ nhỏ. Năm 1930, bị địch bắt và đưa ra Côn Đảo, tại đây, Tô Hiệu được giác ngộ cách mạng và trở thành một chiến sỹ cộng sản trung kiên.

Năm 1936, sau khi ra tù, ông đặc trách vùng Duyên hải, trực tiếp phụ trách Ban Cán sự Hải Phòng, là Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Tháng 12-1939, đồng chí lại bị bắt và bị giam ở nhà tù Sơn La. Trong tù, đồng chí luôn nêu cao khí tiết của người cộng sản, động viên anh em nuôi dưỡng ý chí cách mạng cứu dân, cứu nước. Do bị tra tấn, đày ải tàn khốc, đồng chí Tô Hiệu lâm bệnh nặng, qua đời tại nhà tù Sơn La ngày 7-3-1944. Đến nay, khu bảo tàng di tích nhà tù Sơn La vẫn còn cây đào do mang tên Tô Hiệu và đã từ lâu trở thành biểu tượng cách mạng, một kỷ vật thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt Nam.

Hiện nay, Hải Phòng có một phố mang tên Tô Hiệu (thuộc quận Lê Chân). Tượng đồng chí Tô Hiệu được dựng tại Trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng (tháng 5-2000).
__________________

Don't worry...
Be happy...

Việc khó làm nhất trong đời tôi. LÀ việc biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác

 
Avatar của potternguyen
potternguyen
Bàn viên
Tham gia ngày: Feb 2009
Đến từ: Trại Thương Điên
Bài gửi: 2,287
Cảm ơn: 436
Được cảm ơn 731 lần trong 387 bài viết
Tâm trạng: DangBuon
Lần đọc: 229
Trả lời với Trích dẫn
Trả lời

Tùy chỉnh
Sắp xếp hiển thị

Quyền hạn của bạn
Bạn không thể tạo Chủ đề mới
Bạn không thể gửi Trả lời
Bạn không thể gửi Đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Trackbacks are Tắt
Pingbacks are Tắt
Refbacks are Tắt


Chủ đề giống nhau
Chủ đề Người gửi Chuyên mục Trả lời Bài mới
Những câu danh ngôn cười vỡ bụng:D:D:D co_don Câu lạc bộ Chém Gió 2 22-12-2011 10:35
Danh ngôn để học sunthaman Thơ ca 0 24-03-2010 13:14
Danh ngôn vui.... potternguyen Câu lạc bộ Chém Gió 0 06-10-2009 21:33
-» Danh Ngôn Tình Bạn «- giólênrồi_chémthôi_c7 Từ ánh mắt đến trái tim 1 29-04-2009 17:39
Danh Ngôn Tình Bạn tomboy123 Ban Khoa học xã hội 1 02-01-2009 13:07

 

THPT BẠCH ĐẰNG
Diễn đàn THPT LTK
THPT PVN
Diễn đàn học sinh/ cựu học sinh Trường PTTH Quang Trung - Hải Phòng
Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 04:50.
Phát triển từ 03/11/2008 | Điều hành: HoangPhu.Vn.
Truy cập, sử dụng website này nghĩa là bạn đã chấp nhận Quy định của Diễn đàn!