1. Dao động
Khi có gió nhẹ, bông hoa lay động trên cành cây. Quả lắc của đồng hồ treo tường đung đưa sang trái, sang phải. Trên mặt hồ gợn sóng, mẩu gỗ nhỏ bồng bềnh, nhấp nhô. Chiếc dây đàn ghi ta khi gẩy mạnh rung động trên mặt đàn.
Ở những thí dụ trên, vật chỉ
chuyển động trong một vùng không gian hẹp, không đi quá xa khỏi một vị trí cân bằng nào đó.
Chuyển động như vậy được gọi là
dao động.
Dao động là chuyển động có giới hạn trong không gian, lặp đi lặp lại nhiều lần quanh một vị trí cân bằng. Vị trí đó thường là vị trí của vật khi nó đứng yên: lúc không có gió lay cành cây, đồng hồ không chạy, mặt hồ phẳng lặng, dây đàn không rung.
2. Dao động tuần hoàn
Quan sát
dao động của một quả lắc đồng hồ, ta thấy, thí dụ, cứ sau một khoảng thời gian nhất định bằng 0,5 giây nó lại đi qua vị trí thấp nhất và
chuyển động từ trái sang phải.
Dao động như vậy được gọi là
dao động tuần hoàn.
Dao động tuần hoàn là dao động mà trạng thái chuyển động của vật được lặp lại như cũ sau những khoảng thời gian bằng nhau.
Khoảng thời gian T ngắn nhất sau đó
trạng thái dao động lặp lại như cũ gọi là
chu kì của dao động tuần hoàn.
Đại lượng 1/T chỉ rõ số lần
dao động (tức là số lần
trạng thái dao động lặp lại như cũ) trong một đơn vị thời gian được gọi là
tần số của dao động tuần hoàn.
Đơn vị tần số là
hec (kí hiệu: Hz).
Trong thí dụ trên,
chu kì của quả lắc là T=0,5s.
Tần số của nó là f=1/0.5= 2Hz , nghĩa là quả lắc thực hiện 2
dao động trong 1 giây.
Dao động của dây đàn không duy trì mãi mãi. Nó giảm dần rồi tắt hẳn. Nhưng nếu xét
dao động của giây đàn trong một thời gian rất ngắn, ta có thể coi nó gần đúng là
dao động tuần hoàn.
Dao động của bông hoa trên cành cây, mẩu gỗ trên mặt hồ, không phải là
dao động tuần hoàn.