Khoảng cuối tháng 5/2009, tôi nhận được điện thoại của Đặng Minh- cô bạn học cùng lớp 10A của tôi: “Chủ nhật tới là ngày 31 tháng 5, vừa tròn 40 năm ngày ra trường của bọn mình, chúng mình tổ chức họp lớp ở bên Thủy Nguyên nhé…”

Chúng tôi về thăm lại trường cũ.
Cứ mồi lần nhắc tới họp lớp là tôi cảm thấy thời gian trôi đi nhanh thật! mới đó mà đã 40 năm- ngót nghét gần nửa thế kỷ trôi qua. Mới ngày nào chúng tôi còn là những chàng trai, cô gái vô tư trong sáng, lòng tràn đầy nhiệt huyết, vậy mà thấm thoắt sắp trở thành bậc lão niên ở cái tuổi “bất đáo đình trung”… Có người không được gặp mặt nhau sau 40 năm xa cách… Liệu có còn nhận ra nhau? Đôi khi tôi có cảm giác cuộc đời con người như được đo đếm bằng những lần gặp gỡ, chia ly vậy …
Cũng xin giới thiệu qua hoàn cảnh lịch sử của lớp tôi một chút: Đó là vào những năm 1966- 1969, miền Bắc đang trong cuộc chiến tranh leo thang của Mỹ, học sinh thành phố chúng tôi phải đi sơ tán về nông thôn để tránh những cuộc bắn phá ngày càng ác liệt của địch. Chúng tôi học cùng các bạn ở nông thôn tại trường cấp III Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên- Hải Phòng… Riêng tôi, mãi năm lớp 9 tôi mới từ Lạng Sơn trở về Quảng Thanh nhập học. Tuy là dân sơ tán, nhưng chúng tôi cũng nhanh chóng hòa nhập và kết thân với các bạn ở địa phương. Cho đến bây giờ, người mất người còn, nhưng chúng tôi cũng vẫn thường liên lạc với nhau. Theo sáng kiến của Minh và vài bạn khác, chúng tôi tổ chức một chuyến xe đi thăm gia đình các bạn bên Thủy Nguyên, nhân thể họp lớp ở bên đó…
Đúng 7 giờ sáng, tôi vừa ló mặt tới nhà Nguyệt để tập trung theo lời hẹn đã thấy tiếng reo vui của các bạn: “A, Chi đây rồi…” , cứ mỗi người trong lớp tôi xuất hiện là một lần reo hò như vậy. Suốt dọc đường xe đi về Thủy Nguyên- nơi chúng tôi sơ tán học lớp 10 năm xưa, các bạn của tôi- những ông bà ngót nghét 60 xuân- bỗng chốc vụt biến thành những cô cậu học trò tinh nghịch thuở nào… Đó là Nguyễn Đình Hải- cậu bạn trực tính và sôi nổi nhiệt tình đến độ hơi bốc đồng, nhưng lúc nào cũng luôn hết lòng vì bạn, bất kể thân sơ… đến bây giờ vẫn giữ được tính cách nhiệt tình sôi nổi ấy, là Đặng thị Minh đằm thắm kín đáo và luôn luôn chu đáo với bạn bè, là Nguyễn văn Toan, Tống minh Nguyệt, Mai thị Bắc, Khúc thị Đức “mắt thỏ” hồn nhiên trong sáng của năm nào… Là Nguyễn Phú Lợi- cậu học trò trắng trẻo, có dáng vóc “thư sinh” nhất lớp, nay vừa mới “từ cõi chết trở về”… ( Lợi bị mắc chứng bệnh nan y: ung thư tuyến giáp, phải phẫu thuật và vừa mới ra Viện). Tôi muốn dành vài dòng về Lợi nhiều hơn các bạn khác một chút, vì chúng tôi hết sức cảm phục tinh thần chủ động chấp nhận và chiến đấu với bệnh tật, sự lạc quan yêu đời và nghị lực sống mãnh liệt trong con người cậu ta. Suốt cuộc hành trình “tìm về cội nguồn” của lớp, lúc nào chúng tôi cũng thấy Lợi say sưa quay camera, chụp hình… như tận hưởng từng giây phút quý giá ở bên bạn bè, dường như từng phút đối với cậu ta thật đáng quý biết bao. Sau khi ra Viện, dường như cậu ta lại có sức sống mãnh liệt gấp nhiều lần trước đây…
Chúng tôi hẹn đón Vũ Dũng (từ Quảng Ninh về) ở trường Quang Trung- là địa điểm trường Quảng Thanh dời đến sau này. Phải mất khá nhiều thời gian mới tìm được nhà anh Bùi Trung Hiếu- lớp trưởng năm xưa, tuy nhiên chúng tôi nhận ra được anh ngay, mặc dù đã mấy chục năm không gặp lại: Vẫn dáng người cao cao lòng khòng, vẫn khuôn mặt dài, xương xương, gầy guộc ấy, nhưng bây giờ anh đã trở thành “già làng trưởng bản” rồi. Đỗ Văn Tuyến- cậu học trò nhỏ nhắn, nhút nhát năm xưa cũng đã đến nhà anh Hiếu. Tôi không còn nhận ra cậu ta nữa, chỉ có nét chữ vẫn là nét chữ của cậu học trò Đỗ Văn Tuyến năm xưa: nắn nót, đều đặn, nhỏ nhắn như chữ con gái…. Chính Tuyến cũng không thể nhận ra tôi, khi các bạn nhắc tới tên mới ồ lên: À, Chi “Tiếng chày trên sóc Bom Bo”- hát hay nhất trường, trước kia trông mảnh mai là vậy mà bây giờ to béo như bà Liên- xô!
Ôi, thời gian đã làm biến đổi hình hài của chúng tôi đi nhiều lắm. Trải qua mấy chục năm, mỗi đứa một số phận, nhiều người không còn trên cõi đời này nữa… Nhưng tâm hồn, tình cảm thì không gì có thể làm mai một được... Phải chăng đó là điều duy nhất mà sức tàn phá ghê gớm của thời gian phải chịu thua?
Trên đường sang xã Hợp Thành để đến nhà các bạn Đặng Mạnh Điếm và Đặng Văn Hồng, chúng tôi đi qua nơi trước kia từng là trường Quảng Thanh… nay chẳng còn nhận ra một vết tích nào của cái lớp 10A thân thương ngày ấy, thay vào đó là một khu chợ và khu dân cư đông đúc, xa lạ…Bốn chục năm đã trôi qua, vật đổi sao dời cũng là phải lẽ… chỉ còn có 16 thằng chúng tôi là bồi hồi nhớ về “người xưa cảnh cũ”… “Lối cũ ta về”, những ký ức cứ hiện dần về trên từng nẻo đường xưa…
Lại nhớ tới những bạn đã khuất, trước tiên là Đặng thị Hiên- cô bạn gái xinh xắn dễ mến nhưng tính lại thẳng băng, nóng nảy, khái tính, đôi khi đến mức cực đoan (có lẽ một phần do đặc điểm này mà Hiên quyết định quyên sinh …). Hiên cao lớn và xinh đẹp nhất nhì lớp, có mái tóc dầy và dài mềm mại mầu hung, đặc biệt có giọng hát trầm ấm, chuyên đảm nhiệm bè trầm (tốp ca nữ và hợp ca của bọn tôi “xịn” nhất trường vì là lớp “đột phá khẩu” dàn dựng bè bối, hát phức điệu… đó là những kỹ thuật hát khá phức tạp mà hồi đó còn ít người biết đến. Những bài hát này do tôi và anh Văn – anh trai tôi - dàn dựng cho lớp). Chuyện của Hiên thì phải dành cả một bài viết riêng mới nói hết được…, rồi đến Phạm Thị Minh, rồi Nguyễn Văn An, Nguyễn Đức Sơn- hai cậu bạn khôi ngô, thông minh, học giỏi môn toán. An bơi sải rất giỏi, chiều chiều thường ra bơi ở khúc sông gần nhà tôi sơ tán, còn Sơn chơi cờ ca-rô rất thông minh… nhưng lại có hoàn cảnh đặc biệt, nhà rất nghèo…, Nguyễn Văn Thù, Đặng Nguyễn Trường- người được gắn biệt danh “giỏi Nga như giỏi nhạc”, mỗi lần đến tiết học Nga Văn của thầy Thanh lại run như cầy sấy… mà cũng chả riêng gì Trường, cả lớp tôi hầu như ai cũng sợ và ghét học giờ Nga văn của thày… có lẽ trừ tôi, vì tôi vốn rất thích học ngoại ngữ, lại rất yêu thích những ca khúc của xứ sở Bạch Dương… Đó là những người đã không còn nữa: An hy sinh ở chiến trường B, Hiên thì quyên sinh như phần trên đã nhắc, Phạm Minh, Đức Sơn, Văn Thù mất do tai nạn giao thông, còn Trường thì mất do bệnh tật…
Sau cô Thuy chủ nhiệm lớp, thày Thanh là người được lớp tôi nhắc tới nhiều nhất, bởi cách dạy học khá đặc biệt của thày: Mỗi lần vào lớp, thày thường chỉ mải mê giảng giải về tầm quan trọng của ngữ pháp tiếng Nga “như cái rường, cái cột trong một ngôi nhà” mà quên hẳn bài học phải giảng cho bọn tôi, đến lúc kẻng báo hết giờ mới giật mình tranh thủ dặn các trò về nhà phải xem bài này, bài nọ v.v... Nghe những lời lẽ to tát, “vĩ mô” ấy, bọn trẻ chúng tôi như “chim chích lạc vào rừng”, chẳng hiểu mô tê gì cả và chán ngấy như cơm nếp nát … Chắc là thày “ngán ngẩm” bọn tôi lắm, nên mới gọi lớp tôi là “nơi đây yên nghỉ của những cô những cậu không động đậy”.
Sau khi đi thăm mấy “bà mẹ Việt Nam anh hùng” đã gần trăm tuổi - mẹ của Vũ Dũng, Toan, Tản… chúng tôi đến nhà Vũ thị Tản ở xóm Trại Sơn, An Sơn. Đó là một nơi gần vùng núi, cây cối um tùm, không khí thoáng mát, trong lành. Hai vợ chồng Tản rất nhiệt tình tiếp đón chúng tôi…Một niềm vui bất ngờ là hai ông bạn Nguyễn Văn Thật và Vũ Văn Thơm cũng đã có mặt ở nhà Tản từ lâu để đón chúng tôi… Có người sau 40 năm mới gặp lại nhau, nay đã thành những ông bà “tóc bạc hoa râm” liệu có thể nhận ra nhau qua những hình dáng ngày xưa? Sau một lúc chuyện trò, mừng mừng tủi tủi, chúng tôi bắt đầu lờ mờ nhận ra nhau qua những nét thân quen thuở nào. Hình ảnh các bạn học ngày xưa cứ hiện dần qua từng cử chỉ, nét mặt, hay một đặc điểm nào đó của từng người…

10A - Họp lớp
Chúng tôi liên hoan và họp lớp ở nhà Tản. Gạt sang một bên mọi nỗi lo toan, bệnh tật hành hạ, mười sáu ông bà già chúng tôi bỗng chốc trở thành 16 cô cậu học sinh nghịch như quỷ sứ, quậy và vui nổ trời… Đặng Minh còn mang tới lớp một món quà vô cùng quý hiếm: đó là những tấm ảnh lớp 9A chúng tôi chụp vào năm 1968, ảnh tốp ca nữ của lớp trong lần dự Hội diễn văn nghệ toàn thành phố và ảnh một số bạn chụp với nhau…Những tấm ảnh đã cũ mờ, hoen ố qua thời gian 40 năm, bỗng nhiên trở nên vô cùng giá trị, qua đó chúng tôi lại được nhìn thấy mình và các bạn thời cắp sách tới trường.

Tốp ca nữ 9A - 1968
Rất tiếc là trong buổi họp lớp lần này có một số người vì những lý do riêng mà không đến dự, bõ lỡ cơ hội được sống lại không khí của tuổi học trò, để chúng tôi có dịp gặp gỡ nhau… Trong số họ phải kể đến Ngô Văn Cảnh- cậu bạn học nhà ở Hợp Thành, có cảnh ngộ éo le do ảnh hưởng lý lịch gia đình (gần giống hoàn cảnh của tôi). Tuy nhà ở nông thôn nhưng Cảnh học rất giỏi- nhất là môn toán học. Cảnh sống rất tình cảm, cho đến giờ vẫn được bạn bè dành những tình cảm quý trọng, nhất là nghị lực vươn lên hoàn cảnh éo le, nghiệt ngã…Có lần tôi nghe nói Cảnh không muốn gặp lại bạn học cùng lớp do mặc cảm hoàn cảnh không bằng bạn bè. Nhưng chúng tôi lại nghĩ khác, Cảnh ạ: Bạn còn hơn rất nhiều người trong chúng tôi, bởi bạn dám đối mặt với thử thách và không chịu khuất phục số phận… Mong có dịp được gặp lại bạn, chúng ta sẽ cùng trò chuyện, hàn huyên…
Cả bài viết này tôi chưa hề nhắc đến một người mà nhiều năm sau, chúng tôi còn gắn bó với nhau như hai chị em theo đúng nghĩa của từ này: đó là Đoàn Việt Trung. Hầu như toàn bộ những trang nhật ký của tôi thời gian đó chỉ dành viết về Trung và những cuộc “ganh đua nhau trong học tập” với Trung- cậu bạn, đồng thời là em kết nghĩa của tôi.
Có lẽ trong cuộc đời con người cần phải có một người nào đó để ta hết lòng thương yêu, chăm sóc, để ta quan tâm, lo lắng- nhất là ở giai đoạn “thời hoa đỏ” … Đó như là một nhu cầu rất tự nhiên, rất nữ tính. Thời gian này, Trung chính là người để tôi dành trọn tình cảm chăm sóc, thương quý (Nghĩ lại thấy hồi đó mình cứ cố tỏ ra cứng cỏi như nam giới, hay “sống khép kín, thu mình lại” như Vũ Dũng nhận xét về tôi, nhưng kỳ thực lại rất tình cảm và yếu đuối như bao cô gái khác).
Bây giờ mỗi người một số phận, một địa vị, hoàn cảnh, và không còn gắn bó như xưa.., nhưng tôi vẫn luôn luôn nâng niu trân trọng những tình cảm đó của chúng tôi, cùng những lá thư, những kỷ vật mà Trung gửi cho tôi, kể cả thời gian em tôi đi học Đại học ở Tiệp Khắc… như là một minh chứng cho những gì trong trẻo, hồn nhiên, đáng quý nhất trong cuộc đời mình.
Ba mươi hai học sinh của lớp 10A ngày ấy là ba mươi hai số phận, ba hai cuộc đời: nghiệt ngã cô đơn có, may mắn hạnh phúc có, thậm chí có những người đã ra đi mãi mãi… như là một xã hội thu nhỏ của hoàn cảnh lịch sử trong suốt gần nửa thế kỷ. Điều đáng nói là dù thành đạt trong xã hội hay không may mắn trong cuộc đời, dù mỗi người một tính cách như “năm anh em trong một chiếc xe tăng”, nhưng chúng tôi vẫn và sẽ thường xuyên nghĩ tới nhau, nghĩ tới cái lớp 10A thân thương đó như một kỷ niệm trong trẻo vô tư, đáng quý, đáng trân trọng trong cuộc đời mỗi người (…Những lúc còn ở bên nhau, bọn tôi đâu ý thức được điều này, thậm chí còn “phá đám”, không chịu chụp ảnh kỷ niệm chung trong ngày cuối cùng của lớp, mà mạnh ai nấy…giải tán về nhà, càng nhanh càng tốt, để đến giờ đây mới thấy nuối tiếc). Những kỷ niệm về mái trường xưa như là một điểm tựa tinh thần, một bến đậu bình yên che chở cho chúng tôi nép vào sau những chuyến hành trình mệt mỏi của cuộc đời đầy sóng gió, bất trắc này.
Đó cũng chính là lý do để mỗi người trong chúng tôi tìm về với nhau, với cội nguồn 10A thân thương thuở ấy…

Họp lớp ở nhà Tản.
HảiPhòng, ngày 31/5/2009
Nguyễn Kim Chi