22-11-2009, 07:34
|
#1 (permalink)
|
|
Người lái đò sông Đà

22-11-2009, 07:34
Bài 1Cảm nhận về nhân vật "người lái đò sông Đà"
Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là bút ký đặc sắc, kết quả của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 - 1960 của nhà văn, in trong tập bút ký Sông Đà. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đã in đậm trong hình ảnh người lái đò nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.
Bản thân Nguyễn Tuân khi viết nên tác phẩm này đã thực hiện hoàn tất một hành trình khẳng định phong cách tuỳ bút độc đáo của nhà văn khi đi theo con đường cách mạng. Vốn sống và tài năng của người nghệ sĩ tài hoa này đã gặp được môi trường Tây Bắc với bao nhiêu vẻ đẹp tiềm ẩn trong mảnh đất và con người, từ đó giúp ông có những phát hiện mới mẻ, tô đậm những ấn tượng kỳ vĩ nên thơ về Tây Bắc trong lòng bạn đọc.
Thiên tuỳ bút Người lái đò sông Đà trước hết đem lại cho chúng ta ấn tượng đặc biệt về hình ảnh và công việc của ông lái đò Lai Châu, người mà nhà văn đã gọi là bạn trên tinh thần “qui thuận quần chúng một cách tự giác” (chữ dùng của Nguyễn Tuân). Ông lái đò là hình ảnh một người lao động mà sông nước đã in dấu vào trong từng chi tiết ngoại hình : tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh ra như kẹp lấy một cái bánh lái tưởng tượng, giọng nói ào ào như thác lũ sông Đà, nhãn giới vòi vọi như nhìn về một bến xa nào đó... Tuổi tác không làm mất đi sức sống mạnh mẽ và lòng yêu mến gắn bó với công việc của ông. Bằng cách tạo ấn tượng đặc biệt về nhân vật từ ban đầu, nhà văn dẫn dắt chúng ta vào thế giới sông nước chứa đựng bao thử thách hiểm nguy nhưng có sức cuốn hút riêng với những người ưa thích phiêu lưu mạo hiểm. Bằng thủ pháp của điện ảnh, bằng ngôn từ của mình, Nguyễn Tuân đã dựng lên cả một thế giới sông nước sinh động : «nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy”. Ấy vậy nhưng ông lão đã tuổi bảy mươi đã bao phen thể hiện tài năng vượt thác leo ghềnh, vượt qua thử thách hiểm nguy mà vẫn còn trẻ tráng, dẻo dai !
Câu chuyện vượt sông Đà đã được nhà văn kể lại bằng tất cả niềm hứng khởi về sức mạnh con người chiến thắng thiên nhiên, với tất cả kịch tính, cao trào để tôn vinh nghệ thuật chinh phục thác đá sông Đà. Con sông Đà dữ với thần sông tướng đá bủa giăng thế trận vây lấy chiếc thuyền đơn độc được nhà văn miêu tả bằng ngôn ngữ phong phú của tiểu thuyết chương hồi như gợi cuộc phá vây của mãnh tướng Triệu Tử Long xông vào trận quân Tào Tháo, bên cạnh đó nhà văn có những dòng mô tả chân dung bằng giọng văn rất hóm hỉnh của riêng mình : “Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này...”. Cuộc đối đầu giữa con người trên chiếc thuyền đơn độc với “boongke chìm và pháo đài nổi” trong “cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn” có sức hấp dẫn đặc biệt. Có lẽ nhà văn đã hình dung ra không khí của những hội vật truyền thống khi miêu tả các cuộc đấu sức, đấu trí và đấu sự nhanh nhẹn giữa người và đá nước. Cuộc đấu có miếng, có mưu, cuối cùng phần chiến thắng thuộc về con người, bởi lẽ “Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. Hình ảnh bình thường của người lao động, vật lộn với sóng nước đã được Nguyễn Tuân nâng lên ngang hàng danh tướng "biết mình biết ta trăm trận trăm thắng". Nhưng điều tác giả tô đậm nét hơn ở ông lái đò chính là chất nghệ sĩ toát lên từ công việc đối mặt với hiểm nguy đã trở thành bình thường. Ngay sau khoảnh khắc chiến thắng sức mạnh của thác đá, sóng dữ, thì "sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình". Đây mới chính là ông lái đò mang đậm nét Nguyễn Tuân. Con người chiến đấu với sông Đà dữ cũng chỉ là để mưu sinh, "ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác", nên những con người này cũng yêu mến dòng sông đã cho họ những "cá anh vũ, cá dầm xanh", những hầm cá hang cá "túa ra đầy tràn ruộng". Sông Đà dữ thì có "diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một", nhưng khi sông nước thanh bình, vẻ đẹp nên thơ gợi cảm của dòng sông lại hiện về nguyên vẹn.
Nhà văn đã dành những trang viết thấm đẫm chất trữ tình để miêu tả vẻ đẹp dịu dàng của dòng sông mang trong lòng những huyền sử thuở khai thiên lập địa của cha ông. "Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân.", "Mùa xuân dòng xanh ngọc bích...", "mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa"...Đó là thời điểm cho câu chữ Nguyễn Tuân lai láng chất thơ ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông, bằng cái nhìn và tình cảm của một người tự nhận sông Đà như một "cố nhân". Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của "bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà". Vẻ đẹp ấy như trang nghiêm trong mạch Đường thi cổ điển, vừa lắng đọng hoài vọng về một thuở Lý Trần Lê, vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống nảy lộc đâm chồi : "Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa". Nhà văn đã để cho dòng cảm xúc dào dạt thốt lên thành lời đối thoại im lặng với thiên nhiên, bờ bãi ven sông, dường như con người muốn hoà vào cùng cảnh vật, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của dòng sông. Ngòi bút nhà văn đến lúc này mới thật sự tung hoành trong sự say sưa khám phá cội nguồn, kể về lịch sử dòng sông gắn với cuộc sống và con người Tây Bắc, những người đã đón nhận những tặng vật hào phóng của sông Đà. Cảm xúc từ thực tại của Nguyễn Tuân còn khơi nguồn cho những mơ ước mang tính dự báo về tương lai, biến sức mạnh của dòng sông trái tính trái nết thành nguồn thủy điện dồi dào. Rõ ràng, thực tại cuộc sống mới đã giúp cho Nguyễn Tuân có những dự cảm chính xác, có niềm tin vững chắc vào những con người đang xây dựng một chế độ mới, đem lại sinh khí mới cho cuộc sống ở sông Đà.
Với Người lái đò sông Đà này, Nguyễn Tuân đã ghi dấu ấn không trộn lẫn của mình ở thể loại tùy bút, bám sát hiện thực, say mê khám phá những nét ấn tượng, những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực. Hơn thế nữa, tác phẩm còn đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng tình cảm của nhà văn, sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ yêu đất nước, yêu con người lao động, yêu và tin vào cách mạng, vào con đường dân tộc đang hướng tới. Tấm lòng ấy, tài năng ấy của Nguyễn Tuân thật đáng trân trọng./.
Bài 2: Phân tích hình ảnh thiên nhiên và con người qua “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân để qua đó thấy được phong cách nghệ thuật của tác giả.
Hiếm ai có được một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và con người như Nguyễn Tuân, một cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Đó là một nghệ thuật miêu tả rất tinh vi, sắc sảo, và đầy tài hoa. Điều đó được thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của ông, tiêu biểu là đoạn “Người lái đò Sông Đà” trích từ tập tùy bút “Sông Đà” viết năm 1960.
Đi sâu tìm hiểu nghệ thuật miêu tả độc đáo của Nguyễn Tuân trong “Người lái đò Sông Đà”, ta không những thấy hết những nét đẹp độc đáo của thiên nhiên và con người Sông Đà qua ngòi bút “trăm màu của ông, mà còn cảm nhận được bề sâu tình cảm và con người nơi “miền sông” đó.
* Trước hết nhân vật “thiên nhiên” Sông Đà. Ta gọi là “nhân vật” vì qua nét bút Nguyễn Tuân, Sông Đà hiện lên như một con người thực thụ, với tất cả những cảm xúc, tính khí phứt tạp. (Nhà văn luôn viết hoa hai chữ Sông Đà).
Sông Đà của Nguyễn Tuân không chỉ được miêu tả như những con sông bình thường, những con sông mà khi nhắc đến chỉ làm ta liên tưởng đến nước, hoặc nhiều lắm là dòng chảy, màu sắc dòng sông v.v… Không! Sông Đà của Nguyễn Tuân đặc biệt hơn nhiều! Nó là một tổ hợp của cát, bờ, của gió của đá của thạch trận và của nước, mỗi yếu tố trên con Sông Đà đều được Nguyễn Tuân miêu tả rất chi tiết mỗi cái có một tư thế riêng, tưởng như nó sinh ra là chỉ để gắn với Sông Đà, để góp phần tạo nên hai tiếng “Sông Đà” với đầy đủ tính chất và ý nghĩa của nó. Khi “quan sát” Sông Đà của Nguyễn Tuân trong từng lời văn ta thấy hiện lên một con sông với hai tính cách hoàn toàn mâu thuẫn nhau: rất hung bạo nhưng cũng rất trữ tình.
Cái độc đáo của Nguyễn Tuân là ông có cái nhìn hết sức tinh vi và đặc sắc về mọi sự vật, từ những cái bé nhỏ nhất mà ít ai để ý nhất. Chẳng hạn như cát. Cát là vật bình thường,
6
nhưng cát Sông Đà của ông thì “nó đục thủng gan bàn chân lỗ rỗ như những vết hà đục thủng đáy và mạn dưới các thuyền gỗ”. Bờ cát cũng có đặc điểm riêng của nó, ông miêu tả thiên nhiên có đầy đủ màu sắc, đường nét, âm thanh sống động nhất – thiên nhiên sự vận dụng cách quan sát của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau, từ hội hoạ, thi ca đến điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh. Lúc thì rất hội họa: “Mùa Xuân dòng xanh ngọc bích chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh hến của sông Gầm, sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm vì rượu bữa…” Lúc lại rất tạo hình và giàu chất thơ: “Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình”.
“Áng tóc trữ tình”! Ngôn ngữ văn chương của Nguyễn Tuân thật đặc sắc. Cái nhìn của ông cũng thế. Con sông Đà không phải là “một áng tóc trữ tình” sao được khi “đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Một áng tóc mà có cả mây trời; có cả màu đỏ của hoa gạo, màu trắng của hoa ban, và quyện vào khói, chất trữ tình là ở chỗ đó. Cái hay của Nguyễn Tuân là ông quan sát không chỉ tinh vi mà còn ở nhiều góc độ, ở nhiều thời điểm và trong nhiều trạng thái. Ở quãng trước “nước Sông Đà reo lên như cơm sôi”. Ở quãng khác, dòng sông lại “lừng lờ như nhớ thương”. Chính vì thế mà thiên nhiên của ông trở nên độc đáo, trở thành thiên nhiên của Nguyễn Tuân. Cộng thêm vào đó là ngòi bút tài hoa và lãng tử của ông nữa. Từng lời, từng chữ được nhà văn cân nhắc, trau chuốt kĩ lưỡng và công phu. Nếu chỉ có óc quan sát, có cảm xúc không thôi mà không có kiến thức sâu rộng và tài viết thì không thể nào có được những áng văn miêu tả thiên nhiên độc đáo và gợi cảm đến thế.
* Đoạn tùy bút “Người lái đò Sông Đà” miêu tả thiên nhiên rất độc đáo và rất dài, nhưng có lẽ cái thiên nhiên đó thể hiện lên chỉ làm nền cho hình ảnh con người mà thôi. Thiên nhiên càng hùng vĩ bao nhiêu, dữ tợn bao nhiêu, hiền hòa bao nhiêu thì con người trong thiên nhiên đó càng kiên cường, anh dũng và tài hoa, thơ mộng bấy nhiêu.
Hãy nhìn ông lái đò “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng luỳnh khuỳnh ghì lại như kẹp lại một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa xa trong sương mù”.
Tất cả đều là những hình ảnh rất mạnh, rất độc đáo. Các chữ đều tượng hình sắc nét. Cả âm thanh cũng như như trào lên qua nhiều từ láy nối liền nhau.
Với nghệ thuật so sánh tài tình phong phú. Nguyễn Tuân cho ta thấy hết được các tư thế dũng cảm của người lái đò Sông Đà, và đặc điểm riêng biệt của ông không thể phân biệt với ai. Hiểu biết của ông lái đò càng đáng khâm phục hơn nữa: “Trí nhớ của ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đinh vào tất cả những luồng nước của tất cả con thác hiểm trở”. Lái đò ở miền cao thì cần xào chống…, lái đò miền xuôi thì cần buồm… Hình ảnh người lái đò được Nguyễn Tuân hun đúc không chỉ bằng lời văn tài hoa nhiều màu vẻ mà còn bởi bề sâu kinh nghiệm và hiểu biết mà ông thu lượm được. Ông lái đò qua ngòi bút Nguyễn Tuân hiện lên như một vị dũng tướng trước trận thế của đá, trước những luồng nước hung dữ, trước những cơn reo, nước rống, nước ặc ặc.
Thế nhưng ông đã cưỡi lên thác Sông Đà, cưỡi lên hổ và bao giờ cũng chiến thắng. Miêu tả thiên nhiên để từ đó nổi bật lên hình ảnh con người, miêu tả sự vất vả, can trường của
7
con người chống chọi với sông nước để tái hiện thiên nhiên bí hiểm, hung dữ. Để đạt được như thế phải là một cây bút tài hoa, uyên bác.
Nhưng nếu chỉ có một vốn kiến thức sâu rộng, một óc quan sát tinh vi và một ngòi bút tài năng không thôi thì Nguyễn Tuân không thể tả được một “Sông Đà” với thiên nhiên và con người sinh động như thế và gợi cảm như thế. Tất cả đều xuất phát từ một tấm lòng gắn bó với thiên nhiên và con người sâu sắc. Chính vì yêu cuộc sống, thiên nhiên và con người của đất nước mà Nguyễn Tuân đã lặn lội lên Tây Bắc để rồi hứng khởi viết tập tùy bút “Sông Đà”. Và chính vì tấm lòng dạt dào yêu thương đó ông đã cho người đọc thưởng thức những dòng văn biến hóa linh hoạt rất mạnh mẽ nhưng giàu tình cảm. Tình yêu thiên nhiên sâu sắc đã khiến ông nhìn con Sông Đà như một người có cá tính, có linh hồn và có cả tâm trạng, lúc “ặc ặc giận dữ”, lúc “oán trách”, lúc “van xin”, rồi lại như khiêu khích, giọng gằn và chế nhạo. Ông đã viết “Con Sông Đà gợi cảm” nhưng ông nhìn Sông Đà đầm ấm như một cố nhân và trông con sông mà “Vui như nối lại chiêm bao đứt quãng”.
Nguyễn Tuân say mê trong những dòng cảm xúc miên man về việc khai thác những vẻ đẹp của người lái đò Sông Đà, cả về hình dáng lẫn tài năng. Không phải ngẫu nhiên mà ông ví cái “vết bầm lên một khoanh củ nâu trên ngực vú, bả vai người lái đò là cái đồng tiền tụ máu là hình ảnh quí giá của một thứ huân chương lao động siêu hạng tặng cho người lái đò Sông Đà”. Sự ví von đó không chỉ thể hiện tài hoa của Nguyễn Tuân trong nghệ thuật so sánh, sự độc đáo trong trí tưởng tượng phong phú, mà còn là một biểu hiện tình cảm sâu sắc đối với nghề lái đò âm thầm mà cực kỳ gian truân của người lái đò Sông Đà.
* Qua bài “Người lái đò Sông Đà”, ta thấy được rất rõ nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và con người của Nguyễn Tuân. Trong mỗi trang viết, ông luôn chứng tỏ nét tài hoa và uyên bác của mình. Vì vậy, mỗi nhân vật của Nguyễn Tuân, từ “nhân vật” thiên nhiên đến “nhân vật” con người, dù người lái đò bình thường đi chăng nữa cũng mang một cái gì đó rất thơ mộng, rất nghệ sĩ.
Những quan sát, suy nghĩ, xúc cảm của ông rất tinh vi nhưng cũng rất chân thật, xuyên suốt cả tác phẩm là lời văn mạnh mẽ, dữ dội và đầy chiều sâu kiến thức lẫn chiều sâu của ngôn ngữ văn chương. Có điều, đôi khi ông quá mê mải, sa đà vào khối lượng trí thức ngồn ngộn, sa đà vào việc tỉa tót văn chương, đã làm một số đoạn văn trở nên nặng nề, khô khan và tản mạn.
Lấy người lái đò làm nhân vật chủ thể của câu chuyện về con Sông Đà, nhà văn bộc lộ cảm nghĩ, nghe nhìn, quan sát, nghiền ngẫm và sáng tạo của mình, qua “Người lái đò Sông Đà”, người ta luôn bắt gặp những hình ảnh ví von độc đáo, bất ngờ. Bài viết cho ta cảm giác Nguyễn Tuân muốn đua tài năng viết văn của mình với vẻ đẹp tạo hóa, của thiên nhiên và con người. Chính vì thế mà Sông Đà trong văn chương ông vừa là Sông Đà hiện thực, vừa là Sông Đà nghệ thuật mang tình yêu của Nguyễn Tuân.
__________________
Đừng suy nghĩ quá nhiều và đừng tự làm bản thân mệt mỏi.. Chính việc suy nghĩ không ngừng giúp con người trở thành sinh vật tư duy số 1, nhưng cũng khiến chúng ta dễ hoang mang và rơi vào ảo tưởng..để rồi vất vả mong tìm kiếm sự bình yên..
|
wAy
†¯Çµ¢ kỨt cÔ ĐơN¯†
Tham gia ngày: Dec 2008
Đến từ: abc1_family.forever
Bài gửi: 936
Cảm ơn: 819
Được cảm ơn 790 lần trong 349 bài viết
Tâm trạng:
|
|
|
|
Lần đọc: 1149
|
|
Những thành viên sau đã cảm ơn wAy về bài viết:
|
|
22-11-2009, 07:34
|
#2 (permalink)
|
|
†¯Çµ¢ kỨt cÔ ĐơN¯†
Tham gia ngày: Dec 2008
Đến từ: abc1_family.forever
Bài gửi: 936
Cảm ơn: 819
Được cảm ơn 790 lần trong 349 bài viết
Tâm trạng:
|
NHỮNG NÉT ĐẶC SẮC TRONG TÁC PHẨM:
Nhan đề “Người lái đò sông Đà” ùa vào ta một liên tưởng kép : Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt , còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lạI hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh . Nguyễn Tuân đã giớI thiệu đến chúng ta hình ảnh đầy sinh động về sông núi miền Tây Bắc cũng như những con ngườI Tây Bắc dũng cảm ngoan cường . Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ . Chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu :
“ Chúng thủy giai đông tẩu - Đà giang độc bắc lưu ”
Dòng sông từng một thời là nỗi đau của một đất nước bị rách đôi đã là đề tài cảm hứng cho biết bao các tác phẩm nghệ thuật . Thế nhưng dù đã có bao người khắc , vẽ , và kể chuyện về sông Đà , làm thơ và ca hát với sông Đà thì có lẽ vẫn chưa ai vượt hơn được Nguyễn Tuân trong việc biến vùng sông nước ấy thành nghệ thuật , thành một gợi cảm mênh mang trong “ Người lái đò sông Đà ” . Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà , vừa tóm luôn cái thần chữ của mình . Một mặt “ bắc lưu ” là sư cưỡng lạI “ đông tẩu ” , cái riêng độ đáo là sự cưỡng lạI sức sói mòn của cái chung nhàm cũ . Mặt khác , “ bắc lưu ” chỉ tồn tạI trước “ đông tẩu ” , cái riêng độc đáo chỉ tồn tạI trước cái chung của nó đồng nghĩa vớI cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo . Sông Đà , con sông độc lạ thật thích hợp vớI một ngòi bút độc lạ . Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy , tướI vào linh hồn nó , và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của minh bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào nó : “hung bạo và trữ tình” . Tính cách sông Đà là một hệ thống những phẩm chát đốI chọI nhau nhu nước vớI lửa , và phảI từ những nghịch lí nghịch âm ấy , con sông mớI có đủ điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú , đầy hấp dẫn của mình .
Nguy hiểm nhất là những cái hút nước “ giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu ” , “ không thuyền nào dám men lạI gần những cái hút nước ấy , thuyền nào qua cũng chèo nhanh để lướt quãng sông , y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngòai bờ vực” , “ vô ý là bị những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống ” … Cái thuyền bị con sông nuốt vào bụng , gợI cảm giác lạnh ngườI : ” thuyền trồng ngay cây chuốI ngược rồI vụt biến đi , bị dìm và đi ngầm dướI lòng sông đến mươi phút sau mớI thấy tan xác ở khủynh sông dướI ” . NgườI ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh , có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thánh một đam mê dướI ngòi bút của ông . Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh ngườI đọc bằng cách bắt họ phảI tự chiêm nghiệm cảm giác lạ lùng này : “ Tôi rất sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả , đã dũng cảm ngồI vào một cái thuyền thúng tròn vành rồI cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà , - từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tớI một cột nước cao đến vài sảI . Thế rồI thu ảnh . Cái thuyền xoay tít , những thước phim màu cũng quay tít , cái máy lia ngược contre-plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây tòan bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khốI đúc dày , khốI pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả ngườI quay phim cả ngườI đang xem . Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xóay tít đáy , truyền lại cho ngườI xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồI giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn . ” Tiếp theo đó là những con thác-tâm điểm dữ dộI của sông Đà : ” tiếng thác nước nghe như là óan trách gì , rồI lạI như là van xin, rồI lạI như là khiêu khích , giọng gằn mà chế nhạo ”, “ rống lên như một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa , đang phá tuông rừng lửa , rừng lửa cùng gầm thét vớI đàn trâu da cháy bùng bùng ” . Nguyễn Tuân đã lấy lửa tả cái vốn đốI lập vớI nó la nước , lấy rừng để tả sông khiến ta có được cái nhìn tổng quan hơn và thú vị hơn về sự tương giao sức mạnh của các lực lượng tự nhiên . Những hòn đá như những khuôn mặt mà : ” mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược , hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này ” . Thậm chí, đá như những chiến binh “ bệ vệ oai phong lẫm liệt ” , “ một hòn đá ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏI cái thuyền phảI cưng tên tuổi trước khi giao chiến “ . Những hòn đá bày “ thạch trận trên sông ” , đẩy con thuyền vào tình trạng nguy nan nhất . Nhà văn như một trinh sát tinh tường, đã vẽ lại cái sơ đồ “ thạch trận ” ấy của quân - tướng - đá Sông Đà : “ đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền ” , ” đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông ” , quyết tâm “ phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng và thủy thủ ngay ở chân thác ”. Người đọc như được tác giả đặt lên con thuyền đang vun vút , phang phang xuống thác để cảm thấy quanh minh nước thác hò reo bốn mặt và những hòn đá ngỗ ngược phía trước như nhất tề “ nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền ” .
Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh . Ở đây , ngườI đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hòan giàu giá trị thẩm mỹ , có hả năng thôi miên người đọc trong một chuỗI dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận . Để diễn tả một dòng sông dữ tợn và hung hãn như thế , Nguyễn Tuân đã sử dụng rất nhiều phép so sánh và nhân hóa : tiếng thác “ rống ” trở thành tiếng trâu mộng “ lồng lộn ” , tiếng rừng lửa “ gầm thét ” . Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân như một trận động rừng , động đất hay núi lửa thời tiền sử . Sông Đà như lòai thủy quái vớI những nanh vuốt nơi mặt ghềnh , hút nước và thạch trận dữ hiểm , được nhà văn ví như “ kẻ thù số một của con ngườI ” . Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần , gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hằng bao thế kỷ .
Bên cạnh một Đà giang hung bạo , Nguyễn Tuân còn cho ta thấy một sông Đà trữ tình , hiền hậu : “ cái dây thừng ngoằn ngòeo ” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống , “ tuôn dài như một áng tóc trữ tình , đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trờI Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân ”. RồI lại “ như một cố nhân ” trong nỗI niềm du khách , như “ cái miếng sáng lóe lên ” trong trò chiếu gương con trẻ , như một “ bờ tiền sử ”, như “ một nỗI niềm cổ tích ngày xưa ” … Những so sánh biến hóa không trùng lặp , luôn gây men bằng những đột ngột , ngườI đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm , gây đứt quãng liên tưởng , để rồI thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn , đúng hơn , và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của hững so sánh ăm ắp tràn bờ …. Vẻ đẹp ngôn ngữ của Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho . Nhà văn phảI lao động cật lực , trong đó có khổ công quan sát . Liệu đã mấy ai có đủ công phu quan sát những biến đổI tinh vi đến thế của sông Đà , với “ mùa xuân dòng xanh ngọc bích , chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm , Sông Lô ”, “ mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa , lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về ” , giữa hai mùa ấy là cái “ nắng tháng ba Đường thi ”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con ngườI .
Con sông ấy là hình ảnh thiên nhiên mà Nguyễn Tuân đã từng muốn “ trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một ” , nhưng thiên nhiên ấy cũnng chính là kẻ tôn vinh số một giá trị của con ngườI . Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần đến một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò . NgườI lái đò kia sẽ là ai nếu con tuyền của ông không phảI vật lộn với “ dòng thác hùm beo đang hồng hộ tế mạnh trên sông đá ” ? Có thể người ấy sẽ mang một vẻ đẹp nào đó của ông ngư, ông chài, ông lái … nhưng sẽ không thể trở thành đối tượng của một khúc hùng ca . Trái lạI , chính cái hùng vĩ của sông của thác , của sông nước Đà giang sẽ đưa con ngườI dám đương đầu và chiến thắng thần đá thần sông lên hàng oai linh tối thượng . Người xưa vẫn coi “ cưỡi con gió mạnh , đạp đầu sóng dữ ” là biểu tượng cho một lý tưởng sống anh hùng . Và người lái đò ở đây đã sống cuộc sống mà phải “chiến đấu” hàng ngày trên “ chiến trường” ghềnh thác của con sông dữ. Trong văn học có nhiều cách để gây ấn tượng vớI ngườI đọc . Nguyễn Tuân muốn trình bày một ngườI lái đò gắn bó máu thịt vớI dòng sông Đà , để con ngườI ấy có thể kể về sông Đà như “kể về lòng bàn tay mình” vậy . Người lái đò trong tác phẩm là một ngườI “ đã thôi làm đò cũng đôi chục năm nay ” , nhưng công việc ấy ,cuộc sống ấy đã ăn sâu vào đờI sống , vào tâm hồn , vào cung cách của ông . “Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khùynh khùynh gò lạI như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng … nhỡn giớI ông vòi vọI như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù ” . Cái cuống lái ấy không hề “ tưởng tượng ” tí nào mà nó đã nhập vào đờI sống của ông, trở thành một “ điệu bộ ” không thể thiếu được đốI vớI suốt quãng đờI còn lạI của ngườI lái đò . Sự gắn bó của ngườI lái đò vớI nghề lái đò mật thiết đến mức , dù cái công việc “ lái đò ” thật đã ngưng nhưng cái hình thức của công việc ấy , cái tinh thần của công việc ấy vẫn tiếp tục “ lái đò ” trong đờI sống của ông . Mặc dù tác giả miêu tả sự gắn bó của ông lão vớI dòng sông , vớI nghề lái đò hết sức độc đáo như vậy nhưng nếu không có những điểm nhấn khác , rất có thể ngườI đọc sẽ nhầm ông lão lái đò này vớI bất kì ông lão lái đò nào khác trên những dòng sông khác . Nhưng đây là dòng sông Đà vớI ngườI lái đò trên dòng sông hùng vĩ này . Thế cho nên, ngườI lái đò có một đặc điểm rất độc đáo là khi lái đò ông chỉ muốn “ cắm thuyền ở chợ Bờ “ , nơi mà con sông Đà bắt đầu chảy êm ả , đoạn sông “ hết ghềnh hết thác ” là ông cũng hết hứng thú vớI công việc ngay vì “ chạy thuyền trên khúc sông không có thác , nó dễ dạI tay , dạI chân và buồn ngủ ” . Câu văn này có tính triết lý rất cao . Những khó khăn - ghềnh thác của cuộc sống càng làm cho con ngườI lớn mạnh và chăm chỉ hơn . Sự êm ả , phẳng lặng đôi khi khiến con ngườI ta nhụt chí và tự ru ngủ mình . Ông lái đò dường như luôn luôn đam mê đốI mặt vớI những khó khăn , hiểm nguy . Đó là một tính cách mạnh mẽ và anh hùng . Cái tính cách mạnnh mẽ ấy không phảI ông , và hầu hết chúng ta , có được ngay từ khi mớI lọt lòng mẹ . Tính cách ấy , ý chí ấy được hun đúc dần dần qua những khó khăn , vất vả của cuộc đờI . Ông lái đò thể hiện sự hình thành “ tính cách ” của mình qua “ trí nhớ ông được rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở . Sông Đà, đốI vớI ông lái đò ấy , như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thộc đến cả những cái chấm than chấm câu và những đọan xuống dòng ” . Mặc dù là ngườI rất tỉ mỉ khi dùng từ nhưng ở câu văn này , Nguyễn Tuân đã quá dễ dãi khi dùng hai từ “ tất cả ” đi gần liền nhau trong một câu văn mà không tạo thêm ấn tượng nào cả . Tuy nhiên , ở câu văn mô tả nghề lái đò tiếp sau , Nguyễn Tuân lạI cho thấy khả năng dùng từ lão luyện của mình : ” Làm cái nghề vận tảI đường nước này thật là vất vả , ngườI cứ dựng đứng lên mà luôn tay luôn chân luôn mắt luôn gân và luôn tim nữa ” . Công việc đòi hỏI tòan bộ sức lực , tòan bộ ý chí , tòan bộ tình cảm mơ ước . Đó là đòi hỏI tất yếu không chỉ của nghề lái đò mà còn là sự đòi hỏI của bất cứ việc gì , để đạt được thành công , chúng ta cũng phảI “ luôn tay luôn chân luôn mắt luôn gân và luôn tim nữa ”.
Cuộc sống của ngườI lái đò sông Đà là một cuộc chiến đấu hằng ngày . VớI ngừơi chiến sĩ trên chiến trường , giờ phút ác liệt nhất là lúc đánh gíap lá cà , lúc công đồn , hạ lô cốt đốI phương . VớI ngườI lái đò Sông Đà , đó hính là lúc leo ghềnh , vượt thác . Miêu tả cuộc chiến đấu này , Nguyễn Tuân đã tung ra một độI quân ngôn ngữ thật hùng hậu , đa dạng , biến ảo thần kì vớI liên tục những phép tu từ vô cùng sinh động : so sánh ngầm , nhân hóa , cường điệu … Câu chữ tuôn chảy ào ạt , điệp điệp trùng trùng , gốI lên nhau , nốI theo nhau dâng lên cao , hạ xuống thấp , rồI lạI lên cao , lên đến cao trào … Hình tượng dòng sông , ngọn thác , con ngườI cứ nhấp nhô , sôi sục trong dòng chảy của văn chương , cứ dạt dào , ào ạt trong thanh âm của chữ nghĩa , như một dàn giao hưởng khổng lồ , như một dàn giao hưởng khổng lồ , như một bức tranh hòanh tráng . Nhà văn đã dụng tâm diễn tả cuộc chiến giữa ông lái đò vớI dòng sông theo hướng thọat đầu tưởng như hai bên không cân sức . Để tiếp ông khách không vừa này , sông Đà “ bày thạch trận trên sông ” vớI một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử : cửa tử , cửa sinh , đánh vu hồI , đánh du kích , đánh mai phục , đánh giáp lá cà … Quanh con ngườI đơn độc , “ mặt nước hò la vang dậy … , ùa vào mà bẻ gãy cán chèo . Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gốI vào bụng và hông thuyền . Có lúc chúng độI cả thuyền lên . Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trờI thanh la não bạt ” , sóng thác còn “ đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất , cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ ngườI lái đò ” , “ đánh hồI lùng , đánh đòn tỉa , đánh đòn âm vào chỗ hiểm … ” Vậy mà đốI địch lạI , ông đò có những gì ? Một chiếc thuyền mỏng mảnh , trên đó , con ngườI thật nhỏ bé biết bao giữa luồng thác đang giận dữ , hai tay ghì níu lấy mái chèo , “ hai chân vẫn kẹp chặt cuống lái ” , “ mặt méo bệch đi ” do “ cố nén vết thương ” . Thế nhưng , ba lớp trùng vi của một “ thạch trận ” đầy cửa tử đã không ăn chết được một con thuyền đơn độc hết chỗ lùi . Các dũng tướng ngày xưa , nếu vào đúng cửa sinh và đánh thốc ra đúng cửa sinh là đốI phương tan tành thế trận . Ông đò của Nguyễn Tuân cũng thế . Giữa cái thế giớI của độc dữ và nham hiểm , thế giớI đầy sức mạnh man dạI và lập lờ cạm bẫy , con ngườI vẫn đủ khả năng tìm thấy luồng sinh . NgườI lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu . Ông cũng không có được sức lực như Thủy Tinh . VớI tư thế của kẻ đã nắm chắc “ binh pháp của thần sông thần đá ” , ông lái đò nhỏ bé sừng sưng hiện lên như một viên tướng trí dũng song tòan trước con thủy quái khổng lồ kia . Cái kinh nghiệm đò giang sông nước , lên xuống thác ghềnh , cái trí tuệ của ngườI lao động đã khiến cho ông lái , dù trong tay vẫn có cây chèo , vẫn có thể phá thành vượt ảI như một chiến tướng bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống thiên nhiên . Để miêu tả cuộc giao tranh giữa ngườI và thác dữ , Nguyễn Tuân đã vốc tớI ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng cơn cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường . Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đọan hỗn chiến giữa ngườI và sông nước khiến ngườI đọc nghẹt thở . Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà : “ rống lên , nhổm cả dậy , vồ lấy , đánh khúyp , reo hò , thúc , độI , túm , lật ngửa , bóp chặt … ” . Phía ông lái , động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡI hổ tung hòanh : “ nắm chặt , ghì cương , bám chắc , phóng nhanh , lái miết , đè sấn , chặt đôi , phóng thẳng , chọc thủng … ” . Hai hệ thống động từ đốI chọI , tương phản gay gắt , nhưng vẫn thấy nổI lên thế chủ động , lấn lướt của ông lái đò . Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng , ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con ngườI trong cuộc quyết đấu vớI thiên nhiên để giành sự sống . Trong cuộc chiến gian nguy ấy , con ngườI đã “ không một chút nghỉ tay nghỉ mắt , phảI phá luôn vòng vây thứ hai và thay đổI chiến thuật ” . Nếu chỉ có ý chí kiê cường không thôi thì chưa đủ . Con ngườI phảI có tri thức , có kinh nghiệm để thấu hiểu những khó khăn ấy . ĐốI vớI ông lái đò , ông đã quá “ thuộc ” những ghềnh thác trên dòng ông hiểm trở này . Điều đó tạo cho ông niềm tin vượt qua được những thử thách ấy … ” nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồn rồI , ông đò ghì chương lái , bám chắc lấy luồng nước đúng mà phónh nhanh vào cửa sinh , mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy ” , rồI ” đứa thi ông tránh mà rảo bơi chèo lên , đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến ” . Sự điềm tĩnh , hành động dứt khóat mà ông lái đò vượt qua thế trận của thác nước và đá ngầm , chính là cái điềm tĩnh của một ngườI có tri thức , có kinh nghiệm đứng trước khó khăn của cuộc đờI .
ĐốI vớI ngườI lái đò , hiểm nguy trên dòng sông cũng chính là một phần trong cuộc sống của ông . Khi vượt qua gian nguy , “ sông nước lạI thanh bình . Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá , nướng ống cơm lam , và tòan bàn tán về cá anh vũ , cá đầm xanh … Cũng chẳng thấy ai bàn thêm một lờI nào về cuộc chiến thắng vừa qua ” . Nhà văn như muốn nghỉ ngơi sau chặng đường dài cùng nhân vật của mình đua trah tài trí vớI thiên nhiên hung dữ . Song qua giọng văn nhẹ nhàng , ta lạI thấm thía thêm một vẻ đẹp của ngườI lái đò . ĐốI vớI ngườI lái thuyền , vượt qua ngọn thác không phảI là điều gì quá đặc biệt , không phảI là chiến thắng bởI vì “ khi chưa vượt thác ” ông đã “ biết trước sẽ vượt qua nó an tòan ” . Đó chính là tính cách đặc biệt của ngườI lái đò . Ông có được niềm tin ấy vì ông - ngườI lái đò “ đã nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà ” .Và chính vì “ cuộc sống của họ ngày nào cũng chiến đấu vớI sông Đà dữ dộI , ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác , nên nó cũng không có gì la hồI hộp đáng nhớ … ” . Cái phi thường đã trở thành bình thường. Phẩm chất chiến sĩ đã hòa quyện vớI phong thái tài tử , nghệ sĩ .
__________________
Đừng suy nghĩ quá nhiều và đừng tự làm bản thân mệt mỏi.. Chính việc suy nghĩ không ngừng giúp con người trở thành sinh vật tư duy số 1, nhưng cũng khiến chúng ta dễ hoang mang và rơi vào ảo tưởng..để rồi vất vả mong tìm kiếm sự bình yên..
|
|
|
|
Những thành viên sau đã cảm ơn wAy về bài viết:
|
|
| Tùy chỉnh |
|
|
| Sắp xếp hiển thị |
Chế độ bình thường
|
Quyền hạn của bạn
|
Bạn không thể tạo Chủ đề mới
Bạn không thể gửi Trả lời
Bạn không thể gửi Đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình
HTML đang Tắt
|
|
|
|
|